Đọc báo môi trường và pháp luật, tin tức pháp luật

Cần tôn vinh xứng đáng Nhạc sĩ, nhà viết kịch Trương Minh Phương

25/12/2016 21:31:06
Tôi biết, sinh thời, Minh Phương vốn là một con người lúc nào cũng nhỏ nhẹ, chân thật, ghét thói khoa trương, ồn ào, ghét sự bon chen. Ông thường tránh xa danh lợi, chỉ luôn lặng lẽ bên ngòi bút trang giấy để miệt mài viết những gi minh yêu mình thích mình khao khát và âm thầm hạnh phúc với những gì đã cống hiến cho cuộc đời.
Nhà viết kịch, nhà văn hóa Trương Minh Phương.

Tuy quê gốc ở Phù Mỹ, Bình Định, sinh ra ở Đà Lạt, nhưng số phận đã gắn Trương Minh Phương với “Bình Trị Thiên khói lửa” từ năm 1946, khi 15 tuổi, lúc là đội viên trẻ nhất Đội tuyên truyền lưu động Trung bộ. Trong kháng chiến chống Pháp ông là thiếu sinh quân ở Liên khu 4, Trưởng toán Tuyên truyền xung phong Quảng Bình, rồi Phó Đoàn Văn công phát động quần chúng Quảng Bình.

Năm 1951, năm 20 tuổi, Minh Phương đã có ca khúc “Mùa về ta giữ” rất được yêu thích những năm cuối kháng chiến chống Pháp ở Liên khu IV, báo hiệu sự xuất hiện một tài năng âm nhạc mới. Sau kháng chiến chống Pháp, sau một thời gian tu nghiệp chính quy ở Trường Âm nhạc VN tại thủ đô Hà Nội, Minh Phương tiếp tục ở lại công tác ở Liên khu IV và Quảng Bình. Trong thời gian này, Minh Phương đã trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng ở đây với rất nhiều ca khúc ca ngợi nhân dân, đất nước, Đảng, Bác Hồ, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Trong đó, đáng chú ý nhất là ca khúc “Nhắn Cuội đêm trăng” được Giải Nhì giải thưởng của Hội Văn nghệ Liên khu4, ca khúc “Đắp lại đường xưa” được Giải Nhì cuộc thi ca khúc do Hội Nhạc sĩ Việt Nam và Đài Tiếng Nói Việt Nam tổ chức (1955), rồi “Tổ khúc sông Gianh”, Huy chương Vàng, ca cảnh “Chuyến xe đêm”, Huy chương Bạc cùng trong Hội diễn ca múa nhạc Toàn quốc năm 1972.

Không những nổi tiếng trong sáng tác âm nhạc, chính tại mảnh đất Quảng Bình, Minh Phương cũng bắt đầu nổi tiếng là một nhà viết kịch dồi dào năng lực sáng tạo với hàng loạt kịch bản sân khấu ông sáng tác cho các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp cũng như phong trào nghệ thuật quần chúng tiêu biểu là các tác phẩm “Một lòng”: giải thưởng của Vụ Nghệ thuật Sân khấu năm1959, “Lòng tin”: giải thưởng Vụ Nghệ thuật Sân khấu năm 1963 và “Mưa rừng”, giải Ba, Giải thưởng Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam năm 1971.

Tháng 3.1975, từ Quảng Bình, Minh Phương là một trong số những văn nghệ sĩ đầu tiên của miền Bắc được cử vào chi viện cho Thừa Thiên Huế, ngay khi tỉnh anh em này vừa được giải phóng. Và tháng 12.1975, khi Bình Trị Thiên sáp nhập, Minh Phương chính thức nhận công tác Phó phòng Văn nghệ rồi Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên, có đóng góp lớn vào việc xây dựng phong trào văn hoá văn nghệ của mảnh đất Bình Trị Thiên thân yêu.

Minh Phương tiếp tục cho ra đời rất nhiều tác phẩm âm nhạc và kịch bản sân khấu trong đó nổi bật là các ca khúc được nhiều người yêu thích như “Chiều Trường Sơn”, “Đêm rừng già”, “Người K’Ho xuống núi”, “Lời ru của rừng”, “Nhớ rừng”, “Nhớ Đà Lạt”, “Mưa biển”, “Chim én bay xa”…các tác phẩm sân khấu “Gió rừng”, “Huyền thoại về rừng”, “Cây đời thêm xanh”, “Ngược chiều”, “Ánh mắt rừng xanh”, “Giám đốc chịu chơi” và bộ ba kịch dài về Trường Sơn là Bão tố Trường Sơn, Dấu ấn Trường Sơn, Đêm Cha cháp...

Gắn bó sâu sắc với nhân dân, gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và tổ quốc, thầm lặng và bền bỉ lao động sáng tạo, nhạc sĩ nhà viết kịch Trương Minh Phương đã để lại một gia tài nghệ thuật đáng nể trọng với hơn 150 tác phẩm âm nhạc gồm ca khúc, hợp xướng, ca cảnh nhạc mới, hơn 60 tác phẩm sân khấu gồm kịch ngắn, kịch dài, kịch bản dân ca, tiểu phẩm và 6 công trình sưu tầm nghiên cứu dân ca, dân nhạc được gia đình và đồng nghiệp tập hợp cống bố trong bộ sách “Rừng hát”, khổ 19x27cm, với gần 1400 trang do Nhà xuất bản Văn học xuất bản đầu năm 2015, sau khi ông mất khoảng 5 năm.

Hơn150 tác phẩm âm nhạc Minh Phương được viết trong suốt 60 năm, từ năm 1951 đến năm 2010, trước khi mất một năm (2011) với nội dung, thể loại, chất liệu âm nhạc phong phú, nghệ thuật tác khúc vững vàng, sáng tạo là âm vang đầy tự hào của hành trình trọn đời theo Đảng, phụng sự hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa của ông. Đó còn là khúc biên niên sử bằng âm nhạc thể hiện chân thật sinh động nhiều chặng đường cách mạng, nhiều sự kiện lịch sử đáng nhớ, cũng như nhiều ngành nghề, nhiều miền đất thân yêu của tổ quốc ta.

Dù là hành khúc, ca khúc chính trị hay ca khúc trữ tình, hợp xướng hay tổ khúc âm nhạc, ca cảnh, sáng tác âm nhạc của Minh Phương thường mộc mạc giản dị nhưng dễ nhớ, dễ hát bởi giai điệu cuốn hút, ý tứ sâu sắc, ca từ giàu chất thơ. Minh Phương rất mạnh trong khai thác dân ca dân nhạc của quê hương Bình Định, vùng đất thân thuộc Bình Trị Thiên hay các tỉnh dọc dãy Trường Sơn ông từng sống và chiến đấu công tác trong hai cuộc kháng chiến để làm nên sự độc đáo về chất liệu âm nhạc trong các ca khúc của mình.

Cái độc đáo của âm nhạc Trương Minh Phương còn ở chỗ ông luôn làm mới dân ca dân nhạc bằng phương pháp tác khúc hiện đại cũng như trữ tình hoá tài tình các ca khúc mang tính chất tuyên truyền, giáo dục. Rất đáng chú ý là khát vọng tạo ra một thể loại dân ca mới với các bản dân ca hiện đại thể nghiệm như Lý thả diều, Lý Vọng Cảnh, Lý Trường Sơn với nội dung hiện đại thể hiện trong phương pháp tác khúc truyền thống…Vốn sống, vốn âm nhạc phong phú, tràn đầy tình yêu cuộc sống, giàu khát vọng và năng lực sáng tạo, một số tác phẩm âm nhạc của Trương Minh Phương không chỉ là tác phẩm của một thời mà còn những tác phẩm vượt thời gian như “Chiều Trường Sơn”, “Nhớ rừng”, “Lời ru của rừng”, “Mưa biển”, “Người Cờ Ho xuống núi”, “Nhớ Đà Lạt”, “Mưa biển”….

Nếu chúng ta ngạc nhiên trước sức sáng tạo phong phú trong âm nhạc của Minh Phương thì sẽ càng ngạc nhiên khi tiếp xúc với 60 kịch bản sân khấu gồm kịch nói, kịch thơ, dân ca kịch, ca cảnh, kịch bản thông tin và tiểu phẩm của Minh Phương… Trong khối tác phẩm sân khấu đồ sộ tới cả ngàn trang in này, bên cạnh nhiều vở kịch mang tầm tư tưởng lớn về truyền thống cách mạng cả trong chiến đấu cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, như “Bão tố Trường Sơn”, “Dấu ấn Trường Sơn”, “Đêm Cha Cháp”,“Gió rừng”,“Ngọn đèn trước gió”,“Khát vọng Điện Biên”, “Sen nở giữa Sài Gòn”… còn có những vở là những chuyện đời thường cảm động ca ngợi những nhân cách cao đẹp cũng như phê phán các thói hư tật xấu, cửa quyền, tham nhũng như “Huyền thoại về rừng”, “Một khoảng trời xanh”, “Mưa rừng”, “Gió rừng”,“Ngược chiều”, “Sương tan”, “Tiếng chim giữa mùa đông”…cùng rất nhiều kịch bản kịch vui, náo kịch, kịch múa hát dành cho thiếu nhi với những sáng tạo biên kịch rất độc đáo mới lạ như “Giám đốc chịu chơi”, “Bức điện khẩn”“Vạ không nhớ”. “Chiếc bẫy”, “Tôn Ngộ Không đại nào công ty”…
Điều đáng nói là 60 kịch bản sân khấu trên của Minh Phương, ngoài một số kịch dài sáng tác trong những năm cuối đời, đều đã được dàn dựng trên sóng phát thanh truyền hình và trên sân khấu các đơn vị biểu diễn chuyên nghiệp và không chuyên của các Nhà Văn hoá, Nhà Thiếu nhi Quảng Bình, Bình Trị Thiên, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác của cả nước.

Dù là ca ngợi hay phê phán, kịch Minh Phương luôn giàu chất thơ, chất lãng mạn, luôn gắn thiên nhiên với cuộc sống con người, tạo ra môt vẻ đẹp rất riêng biệt. Minh Phương cũng luôn không câu nệ phân biệt thể loại, ông thấy cuộc sống cần gì thì ông viết hình thức ấy, dù chỉ là một tiểu phẩm, một khúc độc tấu hay một kịch bản thông tin ông đều viết rất kỹ càng và đều có các thông điệp riêng của mình dành cho cuộc sống, con người đương thời và mai sau. Trương Minh Phương là nhà viết kịch luôn ý thức đến sự hữu ích, kịp thời của các tác phẩm của mình để phục vụ đắc lực cho nhân dân, đất nước, cho sự nghiệp cách mạng và đó là mục đích sáng tạo hàng đầu của ông.

Tuy vậy, một số kịch bản của ông do đã phản ánh chân thật, sinh động các lĩnh vực của cuộc sống hiện thực và chạm đến chiều sâu nhân văn của con người nên cũng có sức sống vượt thời gian như một số tác phẩm âm nhạc của ông. Đặc biệt, bộ ba kịch về đề tài Trường Sơn của Trương Minh Phương là “Bão tố Trường Sơn”, |”Dấu ấn Trường Sơn” và “Đêm Cha cháp” được viết trong những năm cuối đời của ông nếu vào tay một đạo diễn giỏi và một đơn vị sân khấu tâm huyết nhiều khả năng trở thành những vở diễn hay nhất, độc đáo nhất về Trường Sơn thân yêu.

Không chỉ sáng tác âm nhạc và sân khấu, nhạc sĩ, nhà viết kịch Minh Phương còn dành thời gian sưu tầm nghiên cứu ca dao, dân ca, dân nhạc của các địa phương Bình Trị Thiên. Ông đã cho xuất bản đến 6 công trình sưu tầm nghiên cứu như “Hò khoan Lệ Thuỷ” (1960), “Nét nhạc chiều xưa” 1976), “Những câu hò của lòng dân nhớ Bác” (1990), “Đồng dao Tiền Lệ”  (1994, “Vài nét về dân ca Quảng Bình” (Viết chung với Quách Mộng Lân, 1998) và “Dư âm tình rừng” (2000).         

Đáng chú ý nhất trong các công trình sưu tầm nghiên cứu nghệ thuật dân gian của Minh Phương chắc chắn là công trình “Dư âm tình rừng” ông dành giới thiệu gần 30 loại nhạc cụ của hai dân tộc Pakô và Cơtu, miên tây Thừa Thiên Huế thuộc bốn bộ gảy, thổi gõ và kéo, trong đó có những nhạc cụ nổi tiếng như đàn Abel, Talu, Khèn bè, Amàm, Tàng Coi. Cái độc đáo của công trình nghiên cứu này là Minh Phương không chỉ mô tả cấu trúc, đặc tính kỹ thuật, tính năng, kỹ thuật diễn tấu của từng loại nhạc cụ mà còn ghi âm, ghi lời các bản nhạc và bài dân ca thường gắn liền với các nhạc cụ đó. Thú vị hơn là những cảm nhận và kỷ niệm rất sâu sắc đầy sức cảm hoá của tác giả về mỗi loại nhạc cụ và các huyền thoại được tác giả ghi lại về sự tích mỗi loại nhạc cụ. Có thể thấy, “Dư âm tình rừng” không phải là công trình nghiên cứu nghệ thuật thông thường. Đó là cả một bài thơ văn xuôi về dân ca dân nhạc của hai dân tộc Pakô, Cơ tu được viết không phải bằng kiến thức lạnh lùng mà còn bằng ký ức thưởng thức và tình yêu sâu đậm của tác giả.

Sự đóng góp của nhạc sĩ, nhà viết kịch Minh Phương phần nào đã được cộng đồng ghi nhận qua hơn 30 giải thưởng vinh dự từ cấp Trung ương đến địa phương mà ông từng được trao tặng trong hơn 60 năm lao động sáng tạo phụng sự tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng. Tuy vậy, khi được tiếp xúc với khối di sản nghệ thuật phong phú, đa dạng, đầy sức sống của Trương Minh Phương, chắc chắn ai cũng thấy cần sự tôn vinh xứng đáng hơn cho thành quả lao động sáng tạo đáng quý của người nghệ sĩ đa tài này.

Tôi biết, sinh thời, Minh Phương vốn là một con người lúc nào cũng nhỏ nhẹ, chân thật, ghét thói khoa trương, ồn ào, ghét sự bon chen. Ông thường tránh xa danh lợi, chỉ luôn lặng lẽ bên ngòi bút trang giấy để miệt mài viết những gi minh yêu mình thích mình khao khát và âm thầm hạnh phúc với những gì đã cống hiến cho cuộc đời. Có lẽ, điều vui nhất với Minh Phương ở chốn vĩnh hằng là ông được biết gần như tất cả các tác phẩm tâm đắc đã được bạn bè, gia đình trân trọng sưu tầm và cho công bố bằng một tuyển tập di cảo đầy đặn.

Dù Minh Phương đã đi xa 5 năm qua, nhưng tôi vẫn muốn Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, nơi mà ông là thành viên, tích cực xem xét để có sự tôn vinh xứng đáng hơn cho ông. Ví như Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam trao tặng Giải thưởng Chính thức cho tập sách “Rừng hát” hay các Hội Nhạc sĩ Việt Nam và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam lập hồ sơ đề nghị truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật  cho Minh Phương. Các giải thưởng vinh dự đó không chỉ dành riêng cho Minh Phương và gia đình ông mà còn đem đến một niềm tin, một cổ vũ  quan trọng cho tất cả mọi người:  không một ai, không một đóng góp hữu ích nào cho đất nước, cho nhân dân, cho cộng đồng lại bị bỏ qua hay quên lãng, không được tôn vinh, tưởng thưởng xứng đáng khi đã được phát hiện, nhận diện…


Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Khoa
Tổng Biên tập tạp chí Văn hiến Việt Nam


>> Truy tặng giải thưởng Đào Tấn cho nhạc sĩ, nhà viết kịch lỗi lạc Trương Minh Phương
 
 
detail1
detail2

Mới nhất

Pha cà phê theo phong cách Starbucks

Pha cà phê theo phong cách Starbucks

VOV.VN - Đồ uống của Starbucks tinh tế và có công thức bí mật, nhưng bạn nên lưu ý giữ sức khỏe và ghi nhớ về lượng calo của mình.