Đọc báo môi trường và pháp luật, tin tức pháp luật

Điêu khắc gia Vũ Văn bảy: “Tôi chỉ là kẻ đi mót từ cánh đông dân gian”

29/10/2016 01:03:33
VH+) –Có thể, trong dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam đương đại, ông Vũ Văn Bảy không phải là hiện tượng, không có gì độc đáo đến giật mình trong sáng tác; nhưng dung dị như cỏ, như cái màu nâu đất dân dã và những tứ ý góp nhặt từ cánh đồng dân gian, ông đã góp mình để tạo nên hòa sắc đẹp của nền mỹ thuật ấy.
Mót từng nhánh lộc từ cánh đồng dân gian
Chúng tôi tìm đến nghệ sỹ tại tư gia giữa lòng thành phố Bắc Ninh trong một chiều hè oi ả. Không gian ngôi nhà, không gia làm nghề và sáng tác của ông dường như bao năm qua vẫn vậy. Đó là sự ngôn ngang của tác phẩm, hình thể, chân dung tượng đất đã hoàn chỉnh hoặc chưa kết thúc trước mặt nhà bên hè đường, trên từng mét sân, vườn...

Những tác phẩm của nhà điêu khắc Vũ Văn Bảy

Như mọi ngày, ông vẫn miệt mài với công việc của mình bên bàn xoay nặn chuốt, nhem nhuốc bàn tay, nhễ nhại mồ hôi. Chỉ có khuôn mặt ông là thêm hằn nhiều nếp nhăn, như thể ông rút từ da thịt mình dưỡng chất để nuôi sự phổng phao của các tác phẩm. Quanh nơi ông ngồi, đầu mẩu thuốc lá vứt ngổn ngang. Liệu ông có chết bởi thuốc lá như các nhà khoa học y học vẫn khuyến cáo với những người hút thuốc?. Đó là chuyện tương lai, còn hiện tại, bà Út – vợ ông – cứ chốc lát lại lặng lẽ đến bên, gom những đầu mẩu thuốc lá vào thùng rác, như chấp nhận đầy nhẫn nại của người phụ nữ Việt, như một san sẻ với công việc của ông.

Như con trẻ thủa nặn đất làm con giống, hay chiếc pháo đất chơi trò “pháo nổ pháo nang”, lão nghệ sỹ tuổi ngoại thất tuần ấy đến giờ vẫn chưa thôi chơi cùng đất giữa cái thời của bê tông, sắt thép, cùng bao chất liệu thừa sức khiến sáng tạo của dân mỹ thuật phải xao lòng muốn được sở hữu và chuyển hóa vào tác phẩm của mình.

Ông bảo, mình chả có cơ duyên để là một đệ tử của nhà Phật, chưa có được diễm phúc được là một con chiên dưới chân của Chúa. Nhưng ông luôn nghĩ – có thể hơi khập khiễng – những lời ru của mẹ, của bà, những câu dân ca, ca dao, tục ngữ... mang nặng tâm hồn Việt cũng thiêng liêng như giáo điều của nhà Phật hay lời răn của Đấng Cứu thế. Nó dạy ông bao điều về lẽ ăn ở trong đời, cũng như tạo cho ông nhiều cảm hứng sáng tác. Và ông đã, vẫn lang thang nhặt mót từ cánh đồng dân gian từng nhánh lộc nhân tình hàm súc trí tuệ đúc kết bao đời để làm nên những tác phẩm nghệ thuật của mình. Ví như cái tứ tác phẩm “Kéo cưa lừa xẻ” mà ông đang làm khi chúng tôi đến. ông bảo – Tớ mót nhặt từ thành ngữ dân gian, đồng dao thủa hoa niên để làm ra tác phẩm đó thôi. Chỉ có điều, như một phần tính cách của ông, ông đã tạo theo lối nhìn của mình cụm từ hình hài vợ chồng người thợ xẻ trong động tác cưa xẻ vừa thực hiện, vừa ỡm ờ, hóm hỉnh, đầy ngụ ý.

Còn rất nhiều tác phẩm điêu khắc của ông cũng lấy ý tưởng từ những câu chuyện dân gian, những thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca nghìn đời ông cha ta đã đúc rút. Có thể nói, trên cánh đồng văn nghệ và trí tuệ dân gian, ông đã mót được không ít hạt vàng ròng lấp lánh. Ông bảo, cuộc sống chẳng có gì cao siêu. Nó đơn giản và hồn nhiên như cỏ, như câu thơ của người bạn văn mà ông đắc ý “Ngả lưng xuống cỏ phía nào cũng êm”.

Cuộc sống mà ông giãi bày trong nghệ thuật cũng chẳng đến từ cõi hốt nhiên nào như nhiều người vẫn thần bí nó khi nói về sáng tác của mình. Ông bảo, chỉ cần cúi chân xuống chân cỏ trong mưa bụi Giêng Hai; trong ngày Hạ bồng bột nắng; ngày Thu phơ phất gió heo may; và cả trong xám lạnh chiều Đông rít từng cơn gió Bắc... Chỉ cần thế, cộng thêm một chút suy nghĩ, sẽ thấy cuộc sống, kiếp người và bao chuyện đời hiện ra tất thảy. Ví như đây, ông lôi ra trước chúng tôi tác phẩm “Ngẫm”. Đó là một ông chân trần dẫm lên cỏ, dưới đó, là chiếc tuy – ô xoắn vặn như con giun đất. Ống chân cũng là chiếc lọ có thể cắm hoa. Hãy ngẫm mà xem, trực giác nhận thấy, thì đó khiến ta nhớ đến câu thành ngữ “Con giun xéo mãi cũng oằn”. Nhưng ngẫm thêm, đó là bao triết lý sống trong đời. Sống sao cho hài hòa với thiên nhiên, chan hòa với cộng đồng. Sống biết thế nào là đủ, là giới hạn...

Chỉ nhận mình người thợ điêu khắc dân gian

Cũng như thế, ông đã mót từ dáng hình người mẹ như thân cò lặn lội bờ ao, tần tảo nuôi con tháng ngày vất vả thành một “Phút bình yên của mẹ”. Mót câu đồng dao “Cào cào giã gạo tao xem/ Tao may áo đỏ áo đen cho mày/ Áo đen mày để đi cày/ Áo đỏ để mặc khi mày làm quan.. thành hình tượng ông cháu chơi đùa trong vũ điệu “Cào cào giã gạo”. Rồi ông rót mót trò chơi trồng nụ xèo hoa thành hoạt cnahr những đứa trẻ chơi trò leo trèo, chạy nhảy. Mót cái nắng xa nhà lang thang trên triền sông vắng chuyến đò ngang mà ông khản giọng gọi, lơ mơ tìm theo con đom đóm đưa đường... thành những câu thơ đáng nhớ trong lòng bạn văn chương, nghệ thuật: ...Đường đời bao khúc quanh co/ Sông sâu ai biết chỗ dò lối sang/ Chiều tàn đợi chuyến đò ngang/ Rồi đêm đom đóm soi đường sang sông/ Tàn canh le lói ánh hồng/ Nghe đôi cánh vạc phập phồng trên mây...

Phải chăng, chỉ những người nghệ sỹ - như ông – mới có thể nghe được những thì thầm của dòng sông, con đò, hương hoa dại đi hoang như vó ngựa. Hay chỉ ở cái tuổi như ông mới đủ để thấm thía bao nỗi đời nhân, để hiểu thấu những ngụ ý dân gian để lại trong kho tàng đồ sộ ca dao, tục ngữ, dân ca... mà con người đương đại dường như ngày càng đông đang thờ ơ, đi qua, không nhận thấy những lấp lánh ánh vàng.

Ông kể, tuổi thơ ông – tuổi thơ đã qua cách đây có đến hai phần ba thế kỷ - dẫu không đói nghèo trong rơm rạ như đa phần người dân quê khi đó; nhưng cũng là phận riu tôm đánh dậm. Chỉ có điều ông nội, bố ông, cho đến ông vẫn có được niềm tin dân gian về cái điều ca dao các cụ dạy: “Chớ lo phận khó đi ai ơi/ Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”.

Ông Vũ Văn bảy và người bạn đời

Vậy nên, đi qua bao mưa nắng, bão gió cuộc đời và thời cuộc, làm đủ mọi nghề, chúng tôi vẫn thấy ở ông lấp lánh hồn hậu trong cuộc sống. Ông kể, như sự tình cờ duyên phận, ông tìm thấy đam mê đích thực của mình là gắn với công việc điêu khắc tượng đất. Ông gọi nôm na là nghịch đất. Đất gắn với người. Người ta từ đất mà ra. – Tớ nói cho cậu thấy, đất mới là quý. Chả thế mà Chúa Trời tạo ra con người bằng đất, chứ không phải bằng vàng bạc, ngọc ngà? Khà, khà...”. Người nông dân mặc quần áo nâu đi chân trần làm bạn với đất nâu ngoài đồng ruộng. Ở thì nhà tranh vách đất hay nhà gỗ để mộc lợp mái ngói nâu. Đồ dùng gia dụng là nồi niêu, chum, vại sành nâu sạch mà bền... thậm chí đến cả khi chết người Việt vẫn gắn bó với màu nâu của tiểu sành. – Đất đấy chứ đâu – ông bảo thế. Vậy nên ông lấy làm đắc ý với trò nặn đất của mình. Ông tưng tửng: - Thì đấy, tượng Bác Hồ với cây chì đỏ, tượng cụ Hoàng Hoa Thám, tượng đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt,... cho đến những hàng loạt các tượng chân dung văn nhân, chính khách của tớ, và các tác phẩm nghệ thuật tớ sáng tác: Phút bình yên của mẹ, Cào cào giã gạo, Thủa hàn vi, Ngẫm... vv.. tất thảy đều bằng thứ chất leieuj mà đấng tối cao từng dùng đến để tạo ra con người.

Tôi đùa tếu với ông: - Có phải vì từ nhỏ, đồng dao “Đếm sao”, rồi quen trò đánh đáo, chơi ô ăn quan, nhẩm tính quen, mà sau này ông nghĩ ra món cờ toán?. – Có cả thế thật – ông cười khùng khục – Tớ đã bảo, những gì có bây giờ, cơ bản đều xuất xứ từ cnahs đồng dân gian của cha ông mình mà.

Nói thì tưng tửng đơn giản vậy, nhưng chúng tôi biết, trên cánh đồng màu đất nhân gian nắng gió mặn mòi quanh năm, ông đã bao phen bầm dập lăn lội, lặn ngụp bì bõm, mới có thể tìm được trong bùn đất ngó non tinh khiết để đưa lên mặt hồ xanh gió, tràn nắng những sắc màu và mùi hương thanh ngát của đóa liên hoa..

Đã ở tuổi “cổ lai hy”, ông vẫn đảm đương trách nhiều vai công việc của Hội VHNT tỉnh, đồng thời là Chi hội trưởng Chi hội Mỹ thuật của Hội VHNT Bắc Ninh. Nhưng điều đáng trân trọng dành nói về ông, là thái độ và tinh thần cống hiến hết mình cho nghệ thuật, là niềm đam mê công việc sáng tác với mục tiêu vì cuộc sống con người. Có thể đâu đó ngoài kia vẫn xôn xao, ồn ào bao chuyện thị phi ăn ở nhân gian, thì lăng kính nghệ thuật của ông vẫn còn bao chỗ cho vẻ đẹp cuộc sống vươn ra, tỏa rạng. Và dẫu có nhưng suy ngẫm thời cuộc đặt vào tác phẩm, thì vẫn là những suy ngẫm nhân văn đầy tinh thần trách nhiệm của người “tri thiên mệnh”, cũng như của tinh thần dân gian mà cha ông bao đời đúc rút, kết tinh nên mà ông ông vẫn thường lấy đó làm cảm hứng cho tác phẩm của mình.

Ông Vũ Văn Bảy không phải là hiện tượng, không có gì độc đáo đến giật mình trong sáng tác; nhưng dung dị như cỏ, như cái màu nâu đất dân dã và những tứ ý góp nhặt từ cánh đồng dân gian, ông đã góp mình để tạo nên hòa sắc đẹp của nền mỹ thuật ấy. 

Có thể, trong dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam đương đại, ông không phải là hiện tượng, không có gì độc đáo đến giật mình trong sáng tác; nhưng dung dị như cỏ, như cái màu nâu đất dân dã và những tứ ý góp nhặt từ cánh đồng dân gian, ông đã góp mình để tạo nên hòa sắc đẹp của nền mỹ thuật ấy. Ông bảo, những giải thưởng Mỹ thuật của khu vực Đồng bằng sông Hồng, Hội Mỹ thuật Việt Nam và của một số ngành, lĩnh vực... là ghi nhận đáng trân trọng của cấp trên. Nhưng ông chẳng bao giờ dám vỗ ngực nhận mình là nghệ sỹ, mà chỉ cho mình người thợ điêu khắc dân gian. Cao thủ thật! Phải chăng vì ông biết, chỉ những gì thuộc về dân gian thì mới được bền?.
Minh Hiếu/VănHienVietNam
 
detail1
detail2

Mới nhất